TRANG WEB MINH TRUNG XIN CHÀO ĐÓN CÁC BẠN!

MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG!
Gốc > Quê hương > Nét đẹp văn hóa >

Nón quai thao

Thứ đội để che nắng che mưa trên đầu của người Việt Nam xưa phổ biến nhất là cái khăn vải và cái nón lá. Ngoài các loại mũ đội trong trang phục triều chính của vua và các quan, hay mũ tế của các chức sắc quan viên trong làng thì cả đàn ông và đàn bà trong dân gian đều vấn khăn hay đội nón.

Nón được làm bằng lá lợp trên khung tre, đã nhẹ lại che nắng che mưa rất tiện dụng. Nón phân làm rất nhiều loại, nhưng quy vào 2 loại chính đó là nón quai thao và nón chóp.

Cái nón hình chóp mà người đàn ông Việt Nam đội có nhiều loại khác nhau tuỳ theo thân phận người sử dụng. Các nhà quyền quý nón không lớn, có khi còn lợp vài và trên chóp bọc đồng hay bạc. 

Người quyền quý với chiếc nón chóp bọc đồng
Người quyền quý với chiếc nón chóp bọc đồng

Người dân quê chồng đội nón chóp, vợ đội nón quai thao
Người dân quê chồng đội nón chóp, vợ đội nón quai thao

Cái nón quai thao thì còn tồn tại ở nông thôn cho đến giữa thế kỷ XX, nhưng không rõ cái nón chóp chuyển sang đầu người phụ nữ từ khi nào để đến nay cùng với tà áo dài nó gần như không thể thiếu được trong trang phục “kinh điển” của phụ nữ Việt Nam?

Nón quai thao (cũng còn gọi là nón ba tầm, nón dẹt, nón thúng, nón chủng, nón Nghệ... Đời nhà Trần, triều đình cho cải tiến nón này để các cung nữ đội và gọi là nón thượng – “Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng”.) là một loại nón đắt tiền, đẹp và sang trọng, thường các bà, các cô chỉ đội hoặc mang theo trong những dịp lễ, tết, hội hè, hoặc những lúc có công việc nhàn nhã, vui vẻ nhưng cần phải nghiêm chỉnh, lịch sự. Nón thúng quai thao từ lâu đã đi vào ca dao, dân ca, đi vào tiềm thức của người Việt với những câu ca đằm thắm, trữ tình:

“Ai làm chiếc nón quai thao
Để anh thương nhớ ra vào khôn nguôi”

Hay:

“Ai làm chiếc nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh…”

Cho đến nay, thật khó có thể biết được chiếc nón thúng quai thao đầu tiên ra đời từ khi nào? Và ai là người sáng tạo ra nó? Chỉ biết một điều chắc chắn là: Từ khi chiếc nón quai thao ra đời, nó đã dần dần đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của người Việt và lập tức trở thành một trong những vật trang sức vừa có ý nghĩa thực dụng cho người phụ nữ Việt Nam, vừa góp phần tôn vinh vẻ đẹp của quý bà, quý cô trong cuộc sống…

Đội nón
Đội nón

Nón quai thao gồm hai phần: nón và quai thao.
 
Nón: Vành tròn và phẳng như một cái mâm, kích thước khá lớn, đường kính mặt nón chừng 70- 80 cm, che rợp cả khuôn mặt người đội, tạo nên một không gian rộng, thoáng và mát. Mặt phẳng trên nón lợp lá gồi hoặc lá cọ. Phải lựa lá cọ mỏng, sống nhỏ, không già, không non để có màu vàng sáng, vì lá già màu vàng đậm (chỉ dùng làm nón chóp che nắng, che mưa để làm việc), còn lá non thì có màu trắng vàng (giống như màu nón bài thơ xứ Huế). Sát phía dưới là thành nón cao độ 10-12 cm. Giữa nón gắn một vành tròn như nắp tráp vừa đầu đội cao khoảng 8 cm, gọi là cái “khua”. “Khua” nón làm công phu lắm: Nó là những sợi tre nhỏ chuốt bóng khâu lại với nhau bằng chỉ tơ nhiều màu sắc. Nón nặng nên khua phải cứng. Những sợi chỉ đan chéo nhau thành hình hoa lá, chim muông thật đẹp mắt.
 
Khuôn nón gồm những sợi tre nhỏ chuốt bóng, được may kỹ lại với nhau bằng chỉ móc trắng và săn như dây cước. Mặt trong nón còn được trang trí bằng giấy vàng hay bạc, ghép thành những hình hoa lá, hình chim bướm đẹp mắt gọi là hoa nón. Ở những chiếc nón đặc biệt, lòng nón trên đỉnh còn được đính gương soi, và dùng chỉ màu giăng mắc, đan qua đan lại
 
Nón này chính ở làng Chuông.
Làng Già lợp nón, Khương Thường bán khuôn
Hà Nội thì kết quai tua
Có hai con bướm đậu vừa chung quanh.
 

Ngả nón
Ngả nón

Thứ nón này chia làm ba loại: nón Đấu là loại nhỏ nhất, sườn thành thấp nhất; Nón Nhỡ, còn gọi là nón Ngang, lớn hơn nón Đấu, giản dị hơn nón Mười và nón Mười, còn gọi là nón ba tầm, có vành rộng, sườn nón cao hơn hết.
 
Nón này em sắm đáng trăm
Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa
Nón này che nắng, che mưa
Nón này để đội cho vừa đôi ta

Nón thường được làm ở làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông ( Hà Nội hiện nay).
 
Quai : Quai thao là bộ phận không thể thiếu của chiếc nón ba tầm, nó chẳng những làm cho nón cân bằng, vững chãi, mà còn làm cho người phụ nữ thêm duyên dáng, thướt tha… . Làng Triều Khúc, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, tên nôm na là làng Đơ Thao, nằm trên con đường Hà Nội - Hà Đông, cách trung tâm thành phố chừng 8 km, chuyên sản xuất loại quai này, nên quai gắn liền với tên làng thành quai thao.
 
Làng tôi công nghệ đâu bằng
Là làng Triều Khúc ở gần Thanh Xuân
Quai thao dệt khéo vô ngần
Là nghề của Vũ sứ thần truyền cho
 
 Sợi thao gồm nhiều sợi tơ, ngoài bọc tơ dệt liên tục, giống như bấc (tim) đèn. Sợi thao sau khi dệt xong, được tết nút, nhiều đoạn được thắt lại thành những trang trí nghệ thuật vừa đẹp mắt, vừa làm cho dây thêm chắc.
 
Một bộ quai thao gồm từ hai đến ba sợi thao, dài từ 1.5 - 2 m, bện lại với nhau, gọi là quai kép, thả võng đến thắt lưng. Khi đội phải lấy tay giữ quai ở trước ngực, nón sẽ không bị đong đưa, lại tiện điều chỉnh khi đội thẳng hay lúc cần nghiêng nghiêng che nắng.
 
                         Túa óng tơ vàng tha thướt gió
                         Vàng vàng lá lụa nắng tươi xinh
                         Khuôn hoa e lệ trong khuôn nón
                         Say mắt chàng trai liếc gửi tình (Anh Thơ)
 

Cắp nón
Cắp nón

Có hai trái cù (quả găng), to bằng ngón tay cái, được đan thắt công phu ở hai đầu quai thao. Quai rủ xuống bờ vai thành tua dài từ 20 - 25 cm và có chừng chục túm tua nho nhỏ, tạo sự mềm mại, vui mắt. Khi đội nón này, nếu đi nhanh quá, quai thao sẽ quất vào mặt, cho nên các bà các cô phải từ từ, chậm bước tạo nên vẻ chậm rãi, dịu dàng.
 
Thông thường các cô gái thích dùng quai thao màu gốc của tơ tằm là màu trắng, còn màu đậm như màu đen dành cho các bà đã có gia đình:
 
Chưa chồng nón thúng quai thao
Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai.
 
Đặc biệt phụ nữ ở phố phường còn dùng thêm chiên, thẻ cho vào nón quai thao.

Chiên là một miếng bạc vuông, trong đó có vòng tròn, chạm hai con rồng chầu mặt trăng, đặt vào đáy khua nón.
 
Thẻ cũng bằng bạc, to bằng con bài tam cúc, chạm hoa lá ở giữa, có vòng để buộc quai thao nên người ta dùng hai thẻ cắm vào bên trong nón.
 

Chiếc nón đi kèm với bộ áo mớ ba, mớ bảy được phủ ra ngoài bằng chiếc áo the đen mỏng dính, cài bên cạnh sườn bằng chiếc cúc đồng nhỏ xíu – từ nách lên cổ thì lật chéo sang bên, hở he hé những màu sắc bên trong.
 
Từ xưa đến nay, làng Triều Khúc, tổng Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Triều Khúc, huyện Thanh Oai, Hà Nội) là một làng nghề thủ công chuyên làm quai thao để đính vào nón thúng. Nón thúng thì phải đặt mua tại làng Chuông (nay thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội).
 
Đã hơn nửa thế kỷ nay, nón thúng quai thao và những tấm áo mớ ba, mớ bảy đã lùi xa vào dĩ vãng. Làng Triều Khúc chuyên làm quai thao và làng Chuông chuyên làm nón thúng nổi tiếng khi xưa nay đã đổi nghề. Sự thật là đã từ lâu, nón thúng quai thao không còn được ưa chuộng nữa, vì thế chúng ta và cả bạn bè, du khách quốc tế chỉ còn biết đến trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam thời trước, biết đến nón thúng quai thao, đến áo mớ ba, mớ bảy trên các sàn diễn sân khấu, nhất là trên sàn diễn dân ca quan họ Bắc Ninh… như một chứng tích truyền thống. 


Trình diễn văn hoá, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa
với chiếc nón quai thao (hình trên trong Văn Miếu)

Chiếc nón quai thao của các liền chị quan họ ngày nay
Chiếc nón quai thao của các liền chị quan họ ngày nay

Song những trang phục đơn sơ và giản dị rất Việt Nam này sẽ không mất đi, chúng đã đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam, mãi mãi vẫn là “Hồn dân tộc Việt”.

Nhắn tin cho tác giả
Đào Minh Trung @ 14:10 08/07/2013
Số lượt xem: 4519
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến